Doanh nghiệp đã sẵn sàng dùng lao động chất lượng quốc tế?

Với việc tham gia vào các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Cộng đồng Kinh tế ASEAN… Việt Nam đang bước vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn bao giờ hết. Theo đó, thị trường lao động sẽ sôi động hơn, nhu cầu sử dụng lao động tăng lên, doanh nghiệp có cơ hội để tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng quốc tế. Nhưng liệu các chính sách và cơ chế đã sẵn sàng để đón nhận xu thế này?]

Cơ chế công nhận lao động rõ ràng

Với “Cam kết mở cửa cho 8 ngành nghề lao động” của AEC, người lao động có trình độ cao sẽ được tự do di chuyển giữa các quốc gia trong khối nếu họ có chứng chỉ hành nghề và được thừa nhận trong khối ASEAN. Trình độ lao động giữa các quốc gia tất yếu có chênh lệch, nên cần phải có được sự “thừa nhận” nếu muốn làm việc ở quốc gia thành viên AEC khác.

Chắc chắn rồi đây các quốc gia sẽ có cơ chế công nhận lao động rõ ràng, về năng lực, trình độ của người lao động khi làm việc tại quốc gia mình để tránh tình trạng người lao động nước ngoài có chất lượng tốt nhưng không được “thừa nhận” theo cơ chế. Đây là cơ hội cho các quốc gia muốn nâng cao tính cạnh tranh về chất lượng lao động của khối DN tư nhân.

Các chính sách pháp luật điều chỉnh cũng phải thay đổi để phù hợp. Bởi trong thời đại số, người lao động dù ngồi ở nơi đâu cũng có thể làm việc hầu như trên toàn cầu.

Họ có quyền chọn nơi làm việc, nơi để đóng thuế thu nhập, và quan trọng hơn là nơi họ sẽ cống hiến năng lực. Chính sách vì thế cần linh hoạt và thông thoáng để tạo điều kiện cho lao động nước ngoài có chất lượng, đồng thời không làm chảy máu chất xám trong nước.

DN cũng vậy, việc chiêu mộ nhân tài cũng bắt đầu từ chính sách tuyển dụng và cơ chế. Các vấn đề về đóng thuế thu nhập cá nhân, bảo hiểm, các thủ tục hành chính liên quan không nên là rào cản hay khó khăn, để họ được làm việc với năng suất cao nhất.

Người chủ DN cần có chiến lược phù hợp để nâng cao tính cạnh tranh vào thời điểm hội nhập này, tất cả phải bắt nguồn từ chính sách nội bộ DN trước khi đón chờ sự thay đổi chính sách của Chính phủ.

Giản lược các thủ tục hành chính

Việc tự do di chuyển lao động trong AEC nói chung yêu cầu phải cải cách chính sách và có sự đồng bộ thủ tục ở cả cấp quốc gia và khu vực.

Theo quy định tại Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài thì lao động nước ngoài chỉ được làm việc tại Việt Nam khi có visa lao động. Thời gian cấp visa nên được rút ngắn và cần tạo cơ chế cho các lao động có chuyên môn cao có thể xin cấp visa lao động ngay tại Việt Nam với chi phí thấp.

Gần đây, thủ tục cấp phép cho lao động nước ngoài ở nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực, đã “nới lỏng” hơn. Nghị định 11/2016/NĐ-CP quy định lao động nước ngoài có thể làm việc ở Việt Nam với các chức danh như chuyên gia, quản lý, giám đốc điều hành, lao động kỹ thuật. Dù thời hạn sử dụng giấy phép bị hạn chế (2 năm), nhưng có thể gia hạn tùy vào nhu cầu công việc. Tuy nhiên, các quy định về visa lao động nên nới rộng thời gian và linh hoạt thủ tục hơn nữa để thu hút lao động lành nghề, có chuyên môn kỹ thuật cao.

Tự do liên kết lao động

Những tiêu chuẩn được đề cập trong TPP cũng chính là các tiêu chuẩn lao động được nêu tại Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam đã đáp ứng được đa số các tiêu chuẩn này. Tuy vậy, vẫn còn một số vấn đề ở chính sách về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động, hay về xóa bỏ lao động bắt buộc. Người nước ngoài thuộc đối tượng không kết nạp vào tổ chức công đoàn, như vậy sẽ không đảm bảo quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động trong TPP.

Theo quy định chung, Việt Nam và các nước thành viên phải tôn trọng và bảo đảm quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập tổ chức của người lao động tại cơ sở. Điều này có nghĩa tổ chức của người lao động tại cơ sở có thể lựa chọn gia nhập Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, hoặc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được chính thức hoạt động với danh nghĩa “công đoàn độc lập”. Nhưng hiện nay, tại Việt Nam, chỉ có một tổ chức duy nhất đại diện cho người lao động được công nhận, đó là công đoàn.

Chuẩn lao động theo TPP mang lại tính toàn cầu và công bằng cho các quốc gia thành viên trong quản trị lao động tại DN, DN cần thay đổi để phù hợp. Ở góc độ nhà làm luật, Nhà nước cần mở rộng cơ chế này để hướng đến việc sử dụng nhân lực lao động nước ngoài trong khối ngành kinh tế tư nhân. Từ đó nâng cao tính cạnh tranh của lực lượng lao động trong giai đoạn mới.

Tóm lại, nếu Nhà nước sẵn sàng gỡ bỏ dần các rào cản pháp lý để mở rộng thị trường cho lao động nước ngoài, DN cần tranh thủ. Bản thân DN cũng phải sẵn sàng cho cơ hội thoát khỏi thị trường nội địa, cạnh tranh với các thương hiệu toàn cầu bằng một lực lượng lao động mới – lực lượng lao động có chất lượng quốc tế.

3 cách phê bình nhân viên hiệu quả

Dù là trong công việc hay trong quan hệ cá nhân thì việc đưa ra những phản hồi, phê bình tuy cần thiết nhưng không hề dễ dàng.

Chúng ta có thể phá hỏng một mối quan hệ nếu gây ra những cảm xúc làm tổn thương. Đôi khi chúng ta chọn cách không nói gì cả, “nén giận” và vấn đề lại không thể giải quyết. Vì vậy, bạn nên cân nhắc những cách phê bình hiệu quả và thật sự có thể cải thiện được mối quan hệ.

Bất đồng ý kiến hay sự chỉ trích là một phần của đời sống công việc tại bất cứ môi trường làm việc nào.Tuy nhiên, tại một số công ty, vấn đề trở nên đến mức “cực đoan”. Hệ quả là một số quản trị viên quá mệt mỏi và họ quyết định chọn cách “tấn công từ phía trước” thay vì né tránh vấn đề.

Với các sếp này, việc đối mặt vấn đề, “phê và tự phê” vẫn thể hiện sự quan tâm và tích cực hơn kiểu “đâm sau lưng”. Dĩ nhiên, dung dưỡng văn hóa kiểu “đâm sau lưng” không thể là sự lựa chọn tốt nhưng chọn cách “tấn công từ phía trước” cũng có thể không khả quan hơn nhiều.

Việc phản hồi hiệu quả thay vì chỉ trích vô tâm sẽ giúp tăng năng suất làm việc, tránh hiểu sai vấn đề và nâng cao tinh thần hơn là làm nhụt chí nhân viên.

Chúng ta biết rằng một môi trường làm việc tích cực sẽ mang lại năng suất tốt hơn, nhân viên ít bỏ việc hơn, sức khỏe cũng tốt hơn; trong khi một môi trường bất an, thù nghịch và tiêu cực sẽ làm cho năng suất và hiệu quả công việc, sức sáng tạo và sự gắn bó giảm đi.

Sau đây là ba cách phản hồi hiệu quả dựa trên những kết quả khảo sát mà các nhà quản lý có thể áp dụng để xây dựng một môi trường làm việc tích cực, có thái độ xây dựng:

1. Phản hồi mang tính tích cực nhiều hơn tiêu cực

Trong những tổ chức mà hiệu quả công việc cao, những “phát ngôn tích cực” (thể hiện sự hỗ trợ, thái độ ghi nhận và sự khích lệ) thường nhiều gấp năm lần so với các “phát ngôn tiêu cực” (chỉ trích, bất đồng, phản đối).

Điều tệ hại bao giờ cũng mạnh hơn điều tốt đẹp và não của chúng ta tập trung vào những phản hồi tiêu cực hơn là phản hồi tích cực. Một cuộc đối thoại tệ hại là đủ để phá hủy cả một ngày làm việc.

Kết quả khảo sát cho thấy truyền thông nội bộ tích cực tương quan với sự gắn bó nhiều hơn của nhân viên. Bạn có thể “chỉnh” nhân viên của mình hay thậm chí phê bình họ nhưng bạn cần làm điều đó trong một bối cảnh tích cực. Khi đó, bạn sẽ nhận thấy những kết quả tốt nhất, duy trì được tinh thần và sự gắn bó của nhân viên.

2. Khi phản hồi, tập trung nhiều hơn về điểm mạnh và sự đóng góp của người khác

Thường thì chúng ta hay xoáy vào điều mà chúng đang cần phê bình, chỉ trích. Chúng ta vẫn nói tới điểm mạnh của người đối diện nhưng khá là qua loa, còn lại thì tập trung phê bình một cách rất là chi tiết.

Để không nhận được “hiệu ứng ngược”, các nhà quản lý nên làm ngược lại: nên chi tiết và cụ thể hơn khi nói đến các điểm mạnh, tích cực.

3. Nhấn mạnh sự hợp tác và những điểm chung

Hãy có thái độ khách quan khi nói về một việc tiêu cực. Miêu tả tình huống đã xảy ra thay vì đánh giá, phán xét. Nhận định về hệ quả khách quan hoặc đưa ra cảm xúc cá nhân của bạn liên quan đến việc này thay vì trách cứ và gợi ý những thay đổi có thể chấp nhận được hơn là tranh luận ai đúng, ai sai.

Những nhà lãnh đạo muốn nhận được hiệu quả tốt trong công việc cần chú ý nhiều hơn đến tầm quan trọng của việc tạo ra một môi trường an toàn về mặt tâm lý ở nơi làm việc bằng cách tập trung vào truyền thông nội bộ tích cực. Bạn có thể vừa công bình, vừa thể hiện sự quan tâm.

Thế Giới Di Động tham vọng chiếm 30% thị phần điện máy năm 2017

Với việc bao phủ 63 tỉnh thành trên cả nước, hãng này tham vọng sẽ kiếm được từ mảng điện máy 25.000 tỷ đồng vào 2017.

Công ty cổ phần đầu tư Thế Giới Di Động cho biết vừa hoàn tất quá trình mở rộng hệ thống Siêu thị điện máy Xanh tới 63/63 tỉnh thành của Việt Nam. Đây cũng là hãng bán lẻ điện máy đầu tiên của Việt Nam đạt được độ bao phủ này.

Tính đến 6 tháng đầu năm 2016, hãng đã khai trương thêm 33 siêu thị, nâng tổng số điểm bán lên 119. Ngoài ra, trong năm nay, công ty còn dự định triển khai thêm mô hình “Điện máy Xanh mini” có quy mô nhỏ và sẽ bán các chủng loại hàng hóa vừa đủ cho một khu vực dân cư nhất định. Theo dự kiến, trong giai đoạn 2016–2017 công ty sẽ nhắm đến mở 135 siêu thị điện máy thường và 270 cửa hàng mini, nâng tổng số lượng lên 400 điểm bán trên toàn quốc.

Ảnh minh họa: Internet.

Mục tiêu trong năm nay của hãng với nhóm điện máy là sẽ về đích với doanh thu 12.000 tỷ đồng, chiếm 14-16% thị phần và sẽ nâng lên trên 25.000 tỷ và 30% thị phần vào năm 2017.

5 tháng đầu năm, công ty này đạt doanh thu 16.240 tỷ đồng, tăng trưởng 80% so với cùng kỳ. So với kế hoạch năm 2016 là 34.166 tỷ đồng doanh thu, Thế giới Di Động đã hoàn thành 48% trong 5 tháng. Trong tổng doanh thu đạt được thì điện máy mang về 4.566 tỷ đồng, tăng trưởng 212% so với cùng kỳ và đây cũng là nhóm ngành có mức tăng trưởng mạnh nhất trong các ngành nghề kinh doanh của hãng. Theo đó, lợi nhuận sau thuế của công ty đạt 700 tỷ đồng, tăng 86% và hoàn thành 86% kế hoạch năm.

Bên cạnh 2 mảng kinh doanh chính là điện thoại và điện máy thì mới đây, công ty còn đang thử nghiệm mô hình Bách hóa Xanh với tham vọng tấn công và chiếm lĩnh thị trường nhóm sản phẩm thực phẩm, tiêu dùng nhanh.

Người Việt không còn ham giá rẻ

Báo cáo mới đây nhất của Nielsen cho thấy, người tiêu dùng Việt đang tìm kiếm những sản phẩm “đáng đồng tiền bát gạo” nhất đối với họ, bất kể bối cảnh kinh tế đang diễn ra như thế nào.

Giá là một trong hai yếu tố quan trọng nhất trong việc mua hàng, nhưng người tiêu dùng Việt quan tâm nhiều hơn đến giá trị của sản phẩm hơn là vấn đề giá rẻ. Tâm lý này khiến hàng ngoại chất lượng tốt dù giá cao vẫn sống khỏe tại thị trường nội địa.

Tìm hàng đáng “đồng tiền bát gạo”

Chị Thu Ngân, một luật sư làm việc cho một công ty luật ở Q.1 (TP.HCM) cho biết bình quân chị chi tiêu 100.000 – 150.000 đồng cho trái cây mỗi ngày. “Nhưng do chất lượng an toàn thực phẩm trái cây nội khá mù mờ nên tôi đặt tin tưởng trái cây nhập khẩu hơn”, chị nói. Giá các loại trái cây ngoại cao hơn trái cây nội tùy loại khoảng 20 – 30%: 1 kg hồng Hàn Quốc giá 240.000 đồng, kiwi vàng New Zealand giá 190.000 đồng…

Táo Mỹ, cam Úc, nho không hạt, cherry, kiwi xanh New Zealand… đã là thực phẩm quen thuộc và khá phổ biến với người tiêu dùng Việt từ vài ba năm nay. Nếu như lúc trước, trái cây ngoại chỉ xuất hiện ở các siêu thị, cửa hàng chuyên doanh thì nay đã “phủ” đầy ở các chợ, trên các xe bán dạo… Thực tế, với các mặt hàng thực phẩm, giá rẻ nay không còn quan trọng với nhiều người tiêu dùng bằng chất lượng và an toàn thực phẩm.

Người tiêu dùng Việt sẵn sàng chi tiêu cho hàng hóa đảm bảo an toàn thực phẩm. Ảnh: Nguyên Nga.

Tại một buổi giới thiệu các loại trái cây tươi từ New Zealand ở siêu thị Metro (Q.2, TP.HCM) mới đây, nhiều người đang lựa mua trái cây tại đây cho biết, trái cây của New Zealand, Úc, Mỹ là mặt hàng gia đình chọn mua hằng ngày. Chị Thủy Phương (ngụ Q.Bình Thạnh, TP.HCM) cho biết: “Nho Chile tại đây có giá 105.000 đồng/kg, trong khi nho Ba Mọi của VN có giá 85.000 đồng/kg thì hàng không có thường xuyên, nên tôi chọn nho ngoại cho chắc. Tuy nhiên, lựa chọn này cũng có hai mặt, nếu không cẩn thận, vẫn bị mua nhầm trái cây ngoại “đểu” của Trung Quốc. Chúng tôi nay đi mua hàng dọ theo mã số để tránh bị mua nhầm hàng Trung Quốc. Nói chung nếu chọn hàng sạch, an toàn, chất lượng tương đương, tôi sẵn sàng trả cao hơn 30% để có đồ ăn ngon. Với các loại thực phẩm đặc trưng như mì Ý, pate, xúc xích… thì cao mấy cũng mua chứ không thể so sánh về giá nữa”.

Ông Vũ Vinh Phú, Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội, chia sẻ dịp lễ tết 2016 ông chứng kiến nhiều người đi Thái Lan mua thực phẩm về sử dụng, cho thấy người tiêu dùng Việt đã sẵn sàng mua giá đắt hơn nhưng có thể tin tưởng nguồn gốc xuất xứ, an toàn thực phẩm. Một đôi tất dệt kim VN bán giá 15.000 đồng đầy ngoài đường, nhưng nhiều người vẫn sẵn sàng mua một đôi tất Nhật Bản giá 200.000 đồng. “Tôi đi mua một cái áo sơ mi VN sản xuất vài trăm ngàn đồng nhưng mới 1 tháng đã đứt cúc, cổ áo sờn rách. Giá cao nhưng chất lượng không bằng hàng nước ngoài cũng là lý do khiến người tiêu dùng đổ xô mua hàng ngoại”, ông nói.

Đã hết thời “chịu trận”

Ông Đỗ Ngọc Chính, Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu và tư vấn về tiêu dùng (CEscon), Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng VN (Vinatas), cho rằng đã qua thời người tiêu dùng Việt “ăn chắc mặc bền”, mà nhu cầu tiêu dùng của họ ở mức độ cao hơn, hướng đến việc đặt sức khỏe lên hàng đầu. Đó là lý do người tiêu dùng đặt yếu tố chất lượng sản phẩm lên hàng đầu, cao hơn yếu tố giá cả. Thời gian trước, hàng hóa xuất xứ Trung Quốc phủ dày đặc thị trường, nhưng khi thông tin việc kém chất lượng và nguy hiểm đến sức khỏe lan rộng thì nhiều người chuyển hướng tìm nguồn hàng an toàn hơn, và chấp nhận mức giá cao hơn 20 – 30%. “Chuyển biến này đã làm nảy nở mảnh đất màu mỡ cho hàng hóa thực phẩm ngoại. Doanh nghiệp Việt cần phải nhanh nhạy tận dụng nhu cầu này để đưa thông tin minh bạch về sản phẩm để lấy niềm tin người mua”, ông phân tích.

Người tiêu dùng đã “chịu trận” hàng hóa thực phẩm chất lượng thấp thời gian qua. Nay đã qua thời đó và họ đang sử dụng quyền lực người tiêu dùng để buộc doanh nghiệp trong nước nâng cao chất lượng hơn nữa.

Theo khảo sát của chúng tôi, tại siêu thị, chợ, tiệm tạp hóa, trong xu thế thay thế các mặt hàng Trung Quốc, nay các mặt hàng gia dụng như rổ, thau, bát đũa, cốc chén, chổi lau nhà, thùng đựng rác… xuất xứ từ Thái Lan rất nhiều. Đặc biệt, hàng hóa mỹ phẩm của Thái Lan có giá cao hơn tầm 20%, thậm chí mỹ phẩm cao gấp đôi so với hàng Việt vẫn được nhiều người mua sử dụng hơn.

Chẳng hạn, tại cửa hàng bán tạp hóa lớn C.N trên đường Lạc Long Quân (Q.Tân Bình, TP.HCM), chị Cẩm, chủ cửa hàng cho biết cùng một thương hiệu, nhưng nếu là hàng sản xuất tại Thái, sẽ cao hơn hàng sản xuất trong nước tầm 10 -15%, nhưng người tiêu dùng chấp nhận được. Tập trung nhiều nhất là các mặt hàng nước giặt, nước xả vải từ Thái. Ngoài ra, các nhãn hàng nhập từ Thái như D-Nee, Tizo… cũng có giá cao hơn hàng cùng loại trong nước, nhưng nay thị trường bắt đầu chuộng hơn.

Không chỉ với hàng Thái, người tiêu dùng Việt nay chuộng nhiều hàng Nhật, Hàn với mức giá cao hơn nhiều. Tại cửa hàng đồng giá 40.000 đồng/sản phẩm của Daso (Nhật) trong siêu thị Aeon Tân Phú (TP.HCM), chị Linh Đan (ngụ Q.Tân Bình) đang mua mấy cái nhấc nồi và lót ly với giá 40.000 đồng/sản phẩm, cho biết: “Mặt hàng này đổ đống tại chợ bán tầm 10.000 đồng/sản phẩm, trong siêu thị có giá tầm 16.000 – 25.000 đồng/sản phẩm chủ yếu hàng Việt. Nhưng tôi thích trả cao hơn để mua hàng Nhật bởi vì nó xinh hơn”.

Ông Vũ Vinh Phú cho rằng, người tiêu dùng đã “chịu trận” hàng hóa thực phẩm chất lượng thấp thời gian qua. Nay đã qua thời đó và họ đang sử dụng quyền lực người tiêu dùng để buộc doanh nghiệp trong nước nâng cao chất lượng hơn nữa. “Tôi mua một bó rau muống bán trong Vinmart giá 8.000 đồng, đắt gấp đôi rau ngoài chợ nhưng yên tâm mà sử dụng. Yên tâm về an toàn thực phẩm là lý do mà buổi chiều nào rau quả ở Vinmart cũng hết sạch”, ông nói. Ông phân tích thêm, thị trường có nhiều phân khúc tiêu dùng, hàng Thái Lan đắt hơn 5 – 10% nhưng vẫn hút người mua, phân khúc cao hơn có hàng Nhật, Hàn Quốc…, còn một phân khúc thấp mà đa phần là người lao động, công nhân… đang đành phải chấp nhận chất lượng trôi nổi, nhưng họ cũng dần ý thức và muốn thoát khỏi điều này.

Ông Phú cũng cảnh báo nông sản Việt đang đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các nước khác trong khu vực Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), áp lực đối với sản phẩm trong nước sẽ cao hơn khi hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN khác vào VN được miễn thuế.

Đầu tư vào marketing, Oppo đang hái quả ngọt khi đe dọa cả Samsung

Công nghệ đã khiến nhiều ngành thay đổi chóng vánh. Và đương nhiên, bản thân ngành công nghệ cũng đổi thay nhanh hơn bao giờ hết. Ngành di động cũng không nằm ngoài quy luật đó.

Chỉ trong vòng 3 năm, thứ hạng các thương hiệu trên thị trường di động Việt Nam đã thay đổi nhanh chóng.

Theo thống kê từ GfK, ngôi vương thị phần di động tại Việt Nam vẫn thuộc về Samsung. Thương hiệu đến từ Hàn Quốc ngày càng tỏ ra vượt trội các đối thủ khi tiếp tục mở rộng thị phần, tăng từ hơn 30% năm 2014 lên xấp xỉ 35% trong 5 tháng đầu năm 2016.

Tuy nhiên, vị trí số 2 là mới là tâm điểm của cuộc cạnh tranh, khi chứng kiến “tân binh” OPPO vượt mặt Microsoft (thương hiệu smartphone Lumia, trước đây là Nokia). Mấu chốt nằm ở chỗ, kết quả đã sớm ngã ngũ chỉ sau 3 năm Oppo vào Việt Nam và Nokia về tay Microsoft.

Thị phần di động bao gồm cả điện thoại cơ bản và smartphone. Nguồn: GFK.

Khoảng dăm bảy năm trước, Nokia luôn là cái tên làm mưa làm gió trên thị trường di động tại Việt Nam. Dẫn đầu thị phần trong nhiều năm, người Việt luôn biết đến Nokia với cảm quan thương hiệu có độ bền cao & giá tốt.

Tuy nhiên, sau khi bị Samsung vượt qua vào đầu năm 2012, đặc biệt là sau khi bán mảng di động cho Microsoft năm 2013, thương hiệu điện thoại Nokia dần lu mờ và biến mất.

Thị phần di động của Microsoft nhanh chóng lao dốc sau khi thâu tóm Nokia, từ hơn 26% năm 2014, xuống 15,5% năm 2015.

Năm 2013, khi Nokia bán mảng di động cho Microsoft thì Oppo cũng bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam. Bằng chiến lược gia nhập thị trường tốt, thương hiệu Trung Quốc này đã có bước tăng trưởng rất nhanh chóng.

Trong vòng 3 năm, từ 2014 đến 2016, thị phần của Oppo từ vỏn vẹn 7% đã tăng lên 15,1% (2015) và đạt 21,8% thị phần sau 5 tháng 2016.

Một điểm đáng quan tâm, đó là thị trường di động Việt Nam trong 3 năm qua vẫn tăng trưởng đều đặn. Năm 2015, thị trường tăng trưởng hơn 30%, từ 9,8 triệu máy lên gần 13 triệu máy. Từ đó, có thể thấy Oppo đã phát triển mạnh như thế nào. Con số 15,1% thị phần năm 2015, tương đương với gần 2 triệu điện thoại Oppo đã được bán ra tại Việt Nam.

Oppo “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”, kết hợp với 1 chiến lược marketing rất khôn ngoan.

Có lẽ Microsoft/Nokia là nạn nhân lớn nhất của Oppo tại Việt Nam. Đây là hệ quả của vụ thâu tóm không đi đến đâu giữa Microsoft và Nokia. Kết quả là cả mảng smartphone và feature phone của doanh nghiệp này đều thất bại và dần biến mất khỏi thị trường. 5 tháng đầu năm 2016, thị phần di động tại Việt Nam của Microsoft chỉ còn chưa đầy 5%.

Oppo đã làm gì trong 3 năm tại Việt Nam?

Là thương hiệu điện thoại Trung Quốc, nhưng Oppo rất biết cách tấn công thị trường smartphone Việt thông qua việc liên kết với những ngôi sao trẻ “hot” nhất trên thị trường.

Từ năm 2014, người xem truyền hình Việt bắt đầu nhìn thấy Oppo ở khắp mọi nơi, đặc biệt là kênh truyền hình giải trí quốc gia – VTV3.

Oppo trở nên quen thuộc với khán giả với tư cách nhà tài trợ cho các chương trình thực tế/gameshow truyền hình giải trí trên VTV3, như Bố ơi mình đi đâu thế, The remix – Hòa âm ánh sáng (mùa đầu tiên có mặt Sơn Tùng MTP và Tóc Tiên – 2 gương mặt đại diện của Oppo), Táo quân 2015… Tất cả các chương trình này đều rating cao vút.

Năm 2014, bộ phim “Chàng trai năm ấy” (vai chính là ca sĩ Sơn Tùng MTP) do Oppo tài trợ đã “cháy vé” nhiều ngày sau khi ra rạp.

Chàng trai năm ấy

Poster phim “Chàng trai năm ấy”.

Ngoài Sơn Tùng, Oppo cũng kí hợp đồng được với một loạt sao “hot” được giới trẻ thần tượng như Tóc Tiên, Chipu, Hồ Ngọc Hà, Lý Quý Khánh…

Bên cạnh quảng bá là hoạt động phân phối, mạng lưới phân phối của Oppo được đầu tư phát triển khá mạnh với việc hiện diện ở hầu hết các điểm bán lẻ di động, siêu thị.

Xuất hiện với tần suất dày đặc, hãng điện thoại này đã tạo một làn sóng mới mà bất kì marketer nào cũng mong muốn tạo được cho thương hiệu của mình.

Quảng cáo hay việc tài trợ nhiều cho các chương trình trên truyền hình không giúp tăng doanh số trực tiếp. Nhưng sự xuất hiện thường xuyên của một thương hiệu mới như Oppo giúp thương hiệu được nhắc đi nhắc lại trong tâm trí người tiêu dùng.

Và khi đối thủ thất thế (ở đây, rất tiếc cho Microsoft), Oppo đã chiếm lĩnh thị trường, một cách chóng vánh. Thậm chí, ngay cả ông lớn như Samsung có lẽ cũng nên dè chừng “tân binh” vừa lắm tiền vừa khôn ngoan này đi là vừa.