Công Việc Thực Tập Đã Giúp Mình Nhiều Như Nào?

Hiểu bản thân hơn

Vào thời điểm năm cuối đó, mình đang rất lơ mơ với việc mình sẽ làm gì sau khi ra trường. Học về Truyền thông thì đương nhiên là nên nhắm cơ hội vào làm trong các phòng Marketing hoặc các agency lớn. Nhưng thời điểm đó mình tự audit lại bản thân, thấy mình hợp với công việc hỗ trợ người khác, tuy chưa biết cụ thể là gì. Vậy nên mình quyết định thay vì đi thực tập ở một agency quảng cáo, mình làm thực tập cho phòng Tư vấn hướng nghiệp của trường.

Lúc mình quyết định như vậy, nhiều người cũng ngạc nhiên. Vì học thì ở Hà Nội, mà lại quyết định khăn gói vào Sài Gòn thực tập. Rồi thì chọn chỗ nào không chọn lại chọn làm ở một chỗ nghe chẳng có vẻ gì là ‘truyền thông’ hay ‘sáng tạo’ cả. Nhưng mình kệ. Lúc đó đang thích thì phải thử. Phải làm rồi thì mới biết là mình hợp hay không. Ngày đầu tiên đi làm cũng hoang mang lắm, không biết công việc thực tập thật ra là làm gì. Ngây thơ đến mức bị mấy anh chị list ra một list các loại cafe họ thích uống và địa điểm mua, bảo mình là sáng nào cũng cần chuẩn bị những thứ đó trên bàn (troll thôi) – thế mà làm mình tin sái cổ.

Thế nhưng trăm hay không bằng tay quen. Làm một thời gian rồi mình cũng quen với môi trường ở đây. Mình học được rất nhiều thứ mà mình chưa biết khi còn đi học. Từ chuyện nhỏ nhặt như dấu chấm ở cuối mỗi gạch đầu dòng cho đến cách đặt label email, tổ chức một buổi họp phải có agenda, action plan như thế nào, vân vân và mây mây. Và quan trọng hơn cả là sau kì thực tập, mình đã tìm ra đúng niềm đam mê của mình. Đó không phải là truyền thông, là sáng tạo như mình nghĩ, mà đam mê thực sự của mình là được đem các kĩ năng, kiến thức của bản thân để giúp những người trẻ, những người đi sau được thành công hơn trong con đường sự nghiệp của họ.

Nhiều bạn tìm đến mình với câu hỏi là GPA của em thấp quá, em sợ không tìm được thực tập. Đừng lo các em ạ, GPA hay ngành học không quyết định được 100% em là ai và em sẽ làm gì sau này đâu. Tất cả những gì các em cần làm là khám phá, khám phá và khám phá. Phải tin tưởng vào bản thân, làm việc chăm chỉ và học một thứ mới mỗi ngày.

 Làm việc với nhiều kiểu người

Nếu bạn là người đọc nhiều tin tuyển dụng, chắc chẳng lạ gì với cụm từ ‘teamwork’ rồi đúng không. Teamwork là đòi hỏi bạn phải biết làm việc nhóm, và không chỉ làm làm việc nhóm với bạn bè hay những người mình đã quen đâu nhé, bạn phải sẵn sàng làm việc nhóm với tất cả mọi người.

Công việc thực tập của mình may mắn đó là mình là người duy nhất hỗ trợ Truyền thông cho gần 10 anh chị trong phòng. 10 người là hơn 5 dự án khác nhau, nhờ đó mình được hoạt động riêng lẻ và độc lập với các anh chị ở mỗi dự án. Mỗi người lại có một cách tiếp cận công việc khác nhau, cách nói chuyện khác nhau, cách giao deadlines khác nhau, các khen khác nhau nên từ đó mình tự tiếp thu, điều chỉnh bản thân sau cho phù hợp. Nếu công việc thực tập bạn gặp được một anh chị sếp tốt sẵn sàng chỉ dạy cho bạn, cũng như bạn chịu khó quan sát và học hỏi không chỉ chuyên môn mà còn ở cách thức làm việc, chắc chắn bạn sẽ áp dụng được rất nhiều cho công việc sau này (giống như cách mình đang áp dụng cho các dự án riêng của mình).

 Bạn sẽ được học giao tiếp

Giống như ‘teamwork’, ‘communication’ là kĩ năng bạn bắt buộc phải có dù bạn đang định chọn công việc nào. Không chỉ đơn thuần là có giỏi giao tiếp hay không mà bạn còn phải biết cách điều chỉnh bản thân sao cho phù hợp với mỗi người. Ví dụ với các anh chị trong phòng nơi mình thực tập, có người thích làm việc qua email, có người lại thích gọi đến tận nơi giao việc trực tiếp. Có người thích gửi email phải chào hỏi thưa gửi đầy đủ, có người lại chỉ cần viết nhanh vài dòng tập trung vào nội dung là được. Không có gì đúng hay sai ở đây cả, mà quan trọng là bạn phải tập nhìn, quan sát và điều chỉnh bản thân mình cho phù hợp.

‘Communication’ là chìa khoá để tránh khỏi xung đột trong công việc. Nếu bạn được giao việc nhưng có gì không hiểu, hãy hỏi lại. Mình biết tính người Việt Nam mình hay nể và ngại, ngoài ra lại thấy mình đang là intern cấp dưới nữa, nên ai ở trên nói gì cũng nghe, nói gì cũng làm, đôi khi không hiểu cũng làm. Thế là thành ra mất hay, có khi vừa tốn thời gian của bạn mà công việc lại không hiệu quả. Vậy nên nếu có gì không hiểu, hãy hỏi nhiệt tình vào nhé. Giống như bạn hay đọc blog của mình, nếu có gì chưa hiểu về quá trình tìm việc, cách viết CV, phỏng vấn các thứ thì cứ thoải mái liên hệ với mình.

 Không ngừng học hỏi, không được bỏ cuộc

Khi phỏng vấn thì rất nhiều bạn háo hức, mong được nhận để đi làm ngay. Những ngày đầu tại công ty cũng có vẻ vui. Nhưng chỉ sau 2-3 tuần, một số bạn bắt đầu chuyển sang trạng thái chán. Lý do thì nhiều vô kể, vì công việc không hợp ngành mình học, vì sếp khó tính, vì bạn toàn phải làm việc chả liên quan, vì A, vì B, vì C.

Quan điểm cá nhân của mình là, nếu bạn đã quyết định chọn gắn bó với một công việc, hãy gắn bó với nó ít nhất 4 tháng. 4 tháng là con số tối thiểu để bạn nắm bắt được hết công việc, cũng như để bạn có thể tự tin phần nào để nói rằng mình đã hợp hay chưa. Còn các vấn đề mà bạn đang kêu than? Nếu sếp khó tính, hãy thử xem lại xem sếp vì sao lại như thế, tại mình hay tại 2 bên chưa hiểu nhau? Nếu công việc lặt vặt nhiều quá, hãy xem bạn đã đủ khả năng để đảm nhiệm các trọng trách lớn hơn chưa, nếu rồi hãy đề đạt. Đừng ngại.

Ngoài ra, trong thời gian thực tập, hãy cố gắng học. Không những học chuyên môn, mà học cả từ những kinh nghiệm của các anh chị đi trước. Mời các anh chị một buổi ăn trưa hoặc cafe, chém gió và xin anh chị chia sẻ kinh nghiệm làm việc, từ đó rút ra kinh nghiệm cho chính bản thân mình.

 Hãy học cho mình tính cách ‘Resilience’

Trong công việc thực tập của mình, không dưới 5 lần mình được đọc, được nghe, được khuyên về từ ‘Resilience’ này. Mình không biết dịch ra tiếng Việt như nào, nhưng đại ý của nó là ‘khả năng phục hồi’. Trong công việc cũng như cuộc sống, bạn chắc chắn sẽ thất bại đôi lần. May mắn thì 1-2 lần thôi, kém may hơn thì nhiều lần. Nhưng đó là chuyện thường tình thôi, đừng nản nhé. Chẳng có ai là hoàn hảo cả. Quan trọng là bạn biết đứng lên từ thất bại, can đảm nhìn vào xem vì sao mình thất bại để không lặp lại những sai lầm đó nữa. Và hãy tin tưởng bản thân. Chính bạn mà không tin vào bản thân mình, thì ai dám tin vào bạn nữa đây.

Theo anhtuanle.com

Chỉ số KPI

Chỉ số KPI – Chỉ số đo lường hiệu suất doanh nghiệp

Chỉ số KPI (Key Performance Indicator) – Chỉ số đánh giá hiệu suất công việc. Có thể thấy rằng, chỉ số KPI là một trong những chỉ số quan trọng giúp doanh nghiệp đi đúng hướng. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn xem KPI là một điều gì đó mới mẻ, hoặc có thực hiện sẽ không tránh khỏi một số sai lầm.

Có 3 loại đo lường hiệu quả, rất nhiều doanh nghiệp thực hiện đo lường hiệu suất bằng sự kết hợp của 3 loại trên, tuy nhiên giữa 3 loại hình này lại có mối liên hệ mật thiết với nhau.

• KRI (Key Result Indicators): Tổng quan hiệu suất của một doanh nghiệp trong một viễn cảnh nào đó
• PI (Performance Indicators): Các mục tiêu đo lường để cải thiện hiệu suất
• KPI (Key Performance Indicator) : Trình bày các mục tiêu đo lường để gia tăng hiệu suất đáng kể.Chỉ số KPI
KRI được xem xét trong một chu kỳ tương đối dài, thông thường là hàng tháng hoặc hàng quý. Còn KPI là một tập các đo lường tập trung vào khía cạnh hiệu suất, liên kết chặt chẽ hơn với các mục tiêu chiến lược của tổ chức và mang tính hành động cụ thể hơn.

7 đặc trưng cần có của KPI

• Có thể định lượng được nhưng không nhất thiết mang tính chất tài chính (Non-financial measures). Điều này có nghĩa là KPI không biểu diễn bởi tiền bằng Dollar, Yên hay Pound,…
• Tần số đo lường luôn kèm theo (ví dụ hằng ngày, tháng…)
• Có sự tham gia của Ban Giám đốc
• Dễ dàng hiểu được cách thức đo lường bởi tất cả nhân viên
• Gán trách nhiệm đến cá nhân hoặc đội, nhóm
• Ảnh hưởng có ý nghĩa (Ảnh hưởng đến các nhân tố thành công then chốt (Critical Success Factor))
• Ảnh hưởng tích cực (Ảnh hưởng đến các đo lường hiệu suất khác theo một cách tích cực)

Yếu tố KPI không có dính đến tính chất tài chính, giả sử là 1000$/ngày chẳng hạn. Là bởi vì nếu điều đó xảy ra thì nó là KRI (Key Result Indicator) và xem hoạt động bán hàng trở thành một kết quả hoạt động. KPI được hiểu sâu hơn thế nhiều. Đó có thể là số lần liên lạc với các khách hàng mà đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. KPI thường được đo lường theo ngày, hàng tháng, hàng quý hay hàng năm dựa theo từng vị trí công tác trong doanh nghiệp hay chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, thời gian gần đây có sự kết hợp giữa yếu tố KPI tài chính và không mang tính tài chính là nhờ sử dụng thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard) của Kaplan và Norton, 4 khía cạnh trong doanh nghiệp mà có thể hình thành KPI.

• Tài chính: như tăng trưởng doanh số bán hàng, tỷ lệ hoàn vốn đầu tư
• Khách hàng: như thị phần, sự hài lòng của khách hàng
• Quy trình kinh doanh nội bộ: như hiệu quả lao động, doanh thu tài sản vật chất
• Việc học tập và phát triển của nhân viên: sự hài lòng của nhân viên, đầu tư đổi mới và nghiên cứu.

Chỉ số KPI

Một số chỉ dẫn sau đây sẽ giúp phòng nhân sự xác định tỷ lệ hợp lý cho các KPI nói trên

01- Vị trí công việc: Vị trí công việc đóng vai trò quyết định tỷ lệ ba nhóm KPI. Tại vị trí chuyên viên nghiên cứu R & D, hệ thống KPI tập trung đầu ra sẽ không hiệu quả do nghiên cứu phát triển mang tính chất rủi ro và bất định cao. Đảm bảo chi phí và các hoạt động hỗ trợ R & D không đảm bảo 100 % thành công. Áp tỷ lệ KPI output sẽ tạo ra những áp lực vô hình cho chuyên viên nghiên cứu. Tuy nhiên tại vị trí giám sát bán hàng FMCG, hệ số KPI output sẽ phải chiếm tỷ trọng lớn nhất. Cũng tương tự, hệ thống KPI năng lực sẽ phù hợp với các vị trí nhân viên trẻ.

02- Chiến lược kinh doanh: Chiến lược kinh doanh tác độn sâu sắc tới hệ thống chỉ tiêu đánh giá. Một công ty có chiến lược kinh doanh dài hạn và bền vững sẽ có trọng số hệ thống KPI về năng lực và hành vi nhiều hơn công ty tập trung vào ngắn hạn.

03- Áp lực môi trường kinh doanh: Áp lực môi trường kinh doanh ảnh hưởng ngắn hạn tới hệ thống KPI đánh giá. Các ngân hàng là một ví dụ cụ thể khi tất cả các nhân viên đều phải đảm bảo chỉ số huy động vốn.

04- Năng lực của phòng nhân sự: Năng lực hiện hữu của phòng nhân sự và các cấp quản lý cũng là yếu tố quyết định lựa chọn hệ thống KPI. Hệ thống KPI tập trung về ouput sẽ không đòi hỏi năng lực chuyên môn của phòng nhân sự. Trái lại, hệ thống KPI về năng lực và hành vi sẽ đòi hỏi năng lực cao hơn do phòng nhân sự cần xác định rõ ràng mối liên kết giữa kết quả và hành vi/ năng lực.

Hệ thống KPI tốt là hệ thống KPI thực tế với hoàn cảnh doanh nghiệp của mình, khả thi, thu thập được thông tin chính xác với chi phí và thời gian hợp lý. Nếu muốn thiết lập các KPIs cho từng phòng ban, nhân viên nhân sự phải tham vấn với trưởng phòng ban đó và cấp cao hơn (họ cần những thông tin gì để đưa ra các quyết định quản lý) ngoài ra, cũng cần căn cứ vào mục tiêu và chức năng của phòng ban đó…

Tổng hợp internet

 

kỹ năng lãnh đạo

Phát triển kỹ năng lãnh đạo cho nhân viên trẻ: Cách nào?

Theo một cuộc khảo sát do Deloitte (Deloitte Millennial Survey) thực hiện mới đây, 63% nhân viên thế hệ Y (những người sinh ra vào đầu thập niên 1980 đến cuối thập niên 1990, tức có độ tuổi từ 25-35) cho biết họ không được các công ty tạo điều kiện để phát triển kỹ năng lãnh đạo.

Wes Gay – Giám đốc của Millennial Pipeline, một tổ chức chuyên giúp các nhân viên thế hệ Y và các công ty phát triển kỹ năng lãnh đạo và gắn bó với tổ chức, cho rằng đây là một thực tế đáng báo động. Bởi lẽ, trên thực tế khoảng 70% nhân viên đều có mong muốn trở thành một nhà lãnh đạo trong tương lai và việc các doanh nghiệp không tạo điều kiện để họ hiện thực hóa mong muốn ấy sẽ khiến cho nhân viên thiếu gắn bó lâu dài với tổ chức.

kỹ năng lãnh đạo

Gay cho biết nhiều nhân viên thế hệ Y và các doanh nghiệp nơi họ làm việc quan niệm sai lầm rằng chỉ cần trao cho một người một chức danh thì người ấy sẽ có thể trở thành nhà lãnh đạo. Nói cách khác, có quá nhiều người nghĩ rằng để tạo điều kiện cho một nhân viên phát huy khả năng lãnh đạo thì chỉ cần thăng chức cho nhân viên ấy là được.

Tuy nhiên, các chuyên gia hàng đầu về lãnh đạo như John Maxwell đã từng nói rằng “Lãnh đạo chính là tạo ra ảnh hưởng lên người khác”. Để lãnh đạo người khác, bạn không chỉ cần một chức danh hay một vị trí mà điều quan trọng hơn là bạn phải có khả năng tạo ra ảnh hưởng lên người khác và khiến họ thay đổi theo định hướng của mình.

Vậy thì các doanh nghiệp nên làm gì để tạo điều kiện cho nhân viên thể hiện khả năng lãnh đạo của mình, nhất là đối với những công ty có cơ cấu tổ chức trải dài theo chiều ngang với rất ít thang cấp bậc, chức vụ?

Theo Gay, với định nghĩa về lãnh đạo như trên thì các công ty có thể tạo cơ hội để nhân viên tạo ra sự ảnh hưởng và thay đổi lên những người khác theo mô hình “lãnh đạo theo giới” của doanh nghiệp sau đây.

Chi nhánh đặt tại Atlanta của Porter Novelli, một công ty hoạt động trong lĩnh vực quan hệ công chúng (PR) toàn cầu, đã tự đặt ra câu hỏi làm thế nào để trao quyền lãnh đạo cho nhân viên mà không làm cho cơ cấu tổ chức chuyển thành “hình tháp nhọn” từ cách đây nhiều năm và cuối cùng đã đi đến quyết định thành lập các “giới” (circles) trong công ty.

Một giới được định nghĩa là một nhóm nhân viên có cùng quan tâm về một đề tài hay lĩnh vực nào đó. Các đề tài có thể bao hàm nhiều vấn đề, từ việc cải thiện một khía cạnh nào đó trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho đến những sở thích, đam mê bên ngoài công sở của nhân viên.

kỹ năng lãnh đạo

Bất cứ nhân viên nào cũng có thể gia nhập hay lãnh đạo một giới nào đó. Cách làm này tạo điều kiện cho các nhân viên trẻ có cơ hội thể hiện khả năng lãnh đạo ngoài những công việc hằng ngày của họ.

Các giới khác nhau có thể có những quan tâm khác nhau. Chẳng hạn, “Giới Dịch vụ khách hàng xuất sắc” sẽ tập trung vào việc áp dụng các thực tiễn tốt nhất nhằm hướng tới mục tiêu cải thiện chất lượng dịch vụ khách hàng.

Bất cứ ai trong công ty cũng có thể tham gia vào giới này. Và vì thành phần của giới bao gồm nhiều thành viên đến từ các phòng ban khác nhau của doanh nghiệp, nên sẽ có nhiều ý kiến đóng góp phong phú ở nhiều góc độ khác nhau để cùng hướng đến mục tiêu chung là làm hài lòng khách hàng.

Nhưng quan tâm của các giới không chỉ ở trong công việc. Ở Porter Novelli còn có “Giới Vui vẻ” (Fun Circle). Trọng tâm công việc của giới này là lên kế hoạch tổ chức các buổi tiệc giao lưu, các kỳ nghỉ, các hoạt động thể thao vào các cuộc họp định kỳ hằng tháng.

Những giới như thế sẽ tạo ra một tác động trực tiếp lên các công việc hằng ngày của nhóm. Việc tham gia vào những hoạt động thư giãn ngoài công việc sẽ giúp nhân viên tái tạo năng lượng và quay lại làm việc hiệu quả hơn sau đó cũng như kích thích những suy nghĩ sáng tạo hơn.

Theo Gay, hoạt động của các giới còn tạo điều kiện cho nhân viên thắt chặt quan hệ và tinh thần làm việc đồng đội. Khi được làm việc với các đồng nghiệp ngoài phòng ban chức năng của mình, nhân viên cũng sẽ có cơ hội học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, hợp tác với nhau tốt hơn trong công việc, góp phần xây dựng được một môi trường văn hóa doanh nghiệp lành mạnh và giảm bớt tỷ lệ nhân viên nghỉ việc.

Theo Forbes

Bí quyết trao quyền

Bí quyết trao quyền cho nhân viên của “siêu sếp”

Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp thường được khuyên không nên trở thành những nhà quản lý vi mô, tức là không nên can thiệp sâu vào các hoạt động hằng ngày của nhân viên và thể hiện điều này bằng cách đặt niềm tin ở nhân viên, trao quyền cho nhân viên tự ra những quyết định quan trọng.

Tuy nhiên, trên thực tế các nhà lãnh đạo không dễ gì thực hiện được lời khuyên này. Theo Sydney Finkelstein – Giám đốc Trung tâm Phát triển kỹ năng lãnh đạo của Trường Kinh doanh Tuck thuộc Đại học Dartmouth, tác giả cuốn Superbosses: How Exceptional Leaders Manage the Flow of Talent (tạm dịch: Bí quyết quản lý nhân tài của các “siêu sếp” )vừa được phát hành năm 2016, lý do là những nhà lãnh đạo ấy chưa hình thành được một số quan niệm và cách quản trị nhân sự phù hợp.

Trong hơn một thập niên qua, Finkelstein đã nghiên cứu những nhà lãnh đạo giỏi nhất thế giới, là những nhà quản lý đã đạt được thành công phi thường và phát triển được rất nhiều nhân tài trẻ.

Những vị “siêu sếp” (superbosses) ấy, theo cách gọi của tác giả, hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, bao gồm nhiều nhân vật nổi tiếng như Norman Brinker – “ông trùm” trong lĩnh vực nhà hàng thức ăn nhanh, Michael Miles – đại gia trong ngành thực phẩm đóng gói, Larry Ellison – nhân vật có thế lực trong lĩnh vực công nghệ, Oprah Winfrey – nhân vật có ảnh hưởng trong giới truyền thông…

Theo Finkelstein, họ là những chuyên gia về giao quyền cho nhân viên. Nếu bạn là một nhà lãnh đạo, chưa chắc bạn đã sẵn sàng giao phó cho một nhân viên ở độ tuổi 20 một khoản vốn đầu tư 25 triệu USD và nói với nhân viên ấy rằng anh ta có thể tự ra quyết định về việc sử dụng nguồn vốn này. Nhưng Julian Robertson thì đã làm điều đó.

Bạn có giao nhiệm vụ xây dựng chiến lược phát triển một dự án bất động sản mới cho một nhân viên trẻ không? Nếu bạn là Bill Sanders, một doanh nhân nổi tiếng trong lĩnh vực bất động sản, thì câu trả lời là có.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và phỏng vấn trực tiếp hơn 200 siêu sếp, Finkelstein kết luận rằng sự tự tin mang tính bẩm sinh và không dễ gì lay chuyển là yếu tố hàng đầu giúp các nhà lãnh đạo nói trên sẵn sàng trao quyền cho nhân viên và thành công. Ngoài ra, theo tác giả, các siêu sếp còn có một số niềm tin và triết lý làm việc sau đây giúp họ tin tưởng sâu sắc nhân viên và tạo điều kiện tối đa để nhân viên tự ra quyết định.

Bí quyết trao quyền

Không ngừng học hỏi và sáng tạo. Các nhà lãnh đạo thành công không bao giờ bằng lòng với hiện tại. Họ luôn đặt ra cho bản thân áp lực phải đổi mới và họ mong đợi nhân viên cũng sẽ làm việc độc lập, sẵn sàng chấp nhận rủi ro để sáng tạo ra cái mới.

Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu các nhân viên trẻ gặp thất bại khi thử nghiệm những cái mới theo ý tưởng của sếp? Theo Finkelstein, các nhà lãnh đạo giỏi thường sẽ không lo lắng quá mức trong những tình huống này.

Kyle Craig, một người từng làm việc với Norman Brinker ở Burger King vào thập niên 1980, kể lại rằng Brinker đã rất cởi mở trong việc nhìn nhận thất bại của mình khi thử nghiệm dự án mở các quán cà phê mang tên Brink trong thời gian này.

“Anh ấy không bao giờ phủ nhận sai lầm hay thất bại của mình. Điều đó làm cho nhân viên cảm thấy rất tự tin và thoải mái”, Craig kể lại.

Finkelstein cho rằng nếu các nhà lãnh đạo chấp nhận một thực tế rằng mình hoặc nhân viên đều có thể gặp thất bại thì việc trao quyền ra quyết định cho nhân viên sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều cho cả hai bên.

Thật sự hiểu nhân viên. Các nhà lãnh đạo thành công là những người rất gần gũi với nhân viên và sẵn sàng chia sẻ công việc của nhân viên.

Norman Brinker có thể xuất hiện ở các nhà hàng để thu dọn bàn ăn cùng với nhân viên. Tổng biên tập Gene Roberts thì thường mời nhân viên về nhà để giao lưu và trao đổi công việc đến tận khuya.

Những nhà lãnh đạo ấy luôn cam kết cho việc dẫn dắt và phát triển nhân viên, dành nhiều thời gian để tương tác với nhân viên, quan sát họ trong công việc và đưa ra những phản hồi có giá trị.

Theo Finkelstein, nhờ thường tiếp xúc với nhân viên mà các sếp mới có thể dễ dàng đặt niềm tin ở nhân viên và để cho họ tự ra những quyết định quan trọng.

Các sếp giỏi cũng sẵn sàng giúp nhân viên phác thảo những kế hoạch hành động quan trọng sau khi nhân viên đã ra quyết định. Công thức giao quyền cho nhân viên của họ là: “Quan sát, dẫn dắt, tin tưởng và trao quyền ra quyết định. Sau đó là kiểm chứng lại kết quả”.

Xác định ranh giới rõ ràng giữa việc trao quyền và ra quyết định.
Trao quyền cho nhân viên không có nghĩa là để cho nhân viên tự ra quyết định một cách tùy tiện và không có giới hạn.

Theo Finkelstein, các nhà lãnh đạo giỏi phải là những người vạch ra tầm nhìn kiên định cho tổ chức và kỳ vọng nhân viên hành động hướng đến tầm nhìn ấy. Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của mình, nhân viên sẽ được trao quyền để đưa ra các quyết định về cách thức thực hiện theo ý mình muốn nhưng họ phải đảm bảo các hành động của mình luôn hướng về tầm nhìn mà nhà lãnh đạo đã vạch ra.

Các nhà lãnh đạo giỏi luôn truyền đạt đến nhân viên về tầm nhìn của doanh nghiệp một cách rõ ràng và chỉ can thiệp vào các quyết định của nhân viên khi cần thiết để đảm bảo các quyết định ấy không mâu thuẫn hay xung đột với tầm nhìn.

Tổng hợp internet

Doanh nghiệp Việt

Doanh nghiệp Việt đã “bật nhảy” hay vẫn đang ở thế chạy đà?

Doanh nghiệp Việt đã “bật nhảy” hay vẫn đang ở thế chạy đà? khi ngày 5/10, Liên minh Kinh tế Á – Âu (EAEU) sẽ chuyển sang chế độ thương mại tự do với Việt Nam. Theo đó, Việt Nam sẽ bãi bỏ ngay thuế nhập khẩu đối với hơn 59% mặt hàng từ EAEU, trong đó có sản phẩm thịt, bột mì, rượu, thiết bị cơ khí, sản phẩm thép, may mặc…, thuế suất đối với 30% mặt hàng khác sẽ được giảm dần về 0% trong giai đoạn quá độ.

Hơn 90% dòng thuế cho ngành thủy sản, dệt may, da giày đã đứng trước mốc thời hạn về 0%. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là tất cả những mặt hàng được cắt, giảm thuế đều là những mặt hàng mà Việt Nam có khả năng cạnh tranh cao và có bề dày xuất khẩu, liệu đã sẵn sàng “bật nhảy” hay vẫn đang ở thế chạy đà?

Doanh nghiệp Việt

Sẽ tiết kiệm 40 triệu USD

Theo tính toán của Ủy ban kinh tế Á – Âu, thành lập khu vực thương mại tự do giữa EAEU với Việt Nam có thể tăng kim ngạch song phương từ 4 tỷ USD hiện tại lên 8 – 10 tỷ USD. Trong năm đầu tiên hiệp định có hiệu lực, các nhà XK của EAEU sẽ tiết kiệm được khoảng 40 triệu USD tiền thuế.

Được đánh giá là một thị trường tiềm năng và không “khó tính”, hàng hóa Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn đến với thị trường có hơn 183 triệu dân này. Bà Nguyễn Hoàng Anh – Trưởng phòng xuất nhập khẩu, công ty trách nhiệm hữu hạn Trung Thành, cho biết gần một năm nay, công ty đã tìm kiếm nhiều đơn hàng xuất khẩu sang thị trường EU với mức thuế vào khoảng 35%, nay giảm về 0% doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được hàng tỷ USD.

“Bởi vậy, từ tháng 10, doanh nghiệp sẽ tăng lượng hàng xuất sang EU lên gấp đôi. Bên cạnh đó, sẽ thành lập văn phòng đại diện tại Nga, sau đó sẽ mở rộng sang thị trường các nước như Belarus, Kazakhstan… để cung cấp những sản phẩm phù hợp với mỗi thị trường này”, bà Hoàng Anh cho biết.

Ông Đinh Tuấn Anh – Tổng Giám đốc công ty cổ phần Ladoza, cho biết: Đón đầu Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và EAEU, công ty đã tập trung nhập các nguyên liệu da từ Ấn Độ và các thiết bị máy móc, với thuế suất hiện tại là 0%.

“Hiện giờ, chúng tôi đang tìm kiếm các đối tác nước ngoài như Mexico và tiến hành xuất khẩu sang nước này với các sản phẩm ba lô – túi xách. Cùng với đó, thiết kế khoảng 20 sản phẩm mới để đưa sang các thị trường trong năm 2017”, ông Đinh Tuấn Anh chia sẻ.

Trong số những mặt hàng tiềm năng và chủ lực của Việt Nam, dệt may là ngành được hưởng lợi nhiều nhất từ EAEU. Ông Vũ Đức Giang – Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, cho rằng đây sẽ là lợi thế tạo thuận lợi cho ngành dệt may Việt Nam vươn lên phát triển mạnh và có đủ sức cạnh tranh với sản phẩm của các nước khác.

Doanh nghiệp Việt

Doanh nghiệp cần chủ động

Mặc dù Việt Nam đang rất thuận lợi để xuất khẩu hàng hóa sang các nước EU, song ông Đặng Hoàng Hải – Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Âu (Bộ Công Thương), cho rằng trên thực tế, thị trường EU không “dễ tính” như chúng ta nghĩ, những đòi hỏi về chất lượng và mẫu mã cũng bắt đầu khắt khe hơn. Bên cạnh đó là không ít thách thức mà các doanh nghiệp Việt phải đối mặt. Đó là sự cạnh tranh gay gắt với các mặt hàng nhập khẩu từ phía Liên minh để có thể trụ vững trên sân nhà.

Bài toán đặt ra là doanh nghiệp Việt cần chuẩn bị những gì để khắc phục hạn chế, chủ động khai thác tối đa lợi thế từ những điều khoản trong Hiệp định thương mại tự do với thị trường rộng lớn này?

Đại diện Vụ Thị trường châu Âu cho rằng, các doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị tốt điều kiện hạ tầng, tuân thủ những quy định nghiêm ngặt cũng như cạnh tranh bình đẳng với hàng hóa các nước khác. “doanh nghiệp Việt cần nghiên cứu kỹ từng dòng thuế, đặc biệt là quy tắc xuất xứ… Chẳng hạn đối với thủy sản, EAEU và FTA quy định nguyên liệu phải có xuất xứ từ nội khối, nhưng với mặt hàng tôm, cá ngừ, Việt Nam lại được phép sử dụng nguyên liệu nhập khẩu để chế biến hàng xuất khẩu và phải bảo đảm tỷ lệ nội địa trên 40%”, ông Hải khuyến nghị.

Ông Nguyễn Quang Thái – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Kinh tế Việt Nam, cho rằng: “Không phải có thuận lợi về thuế, về giá là chiếm lĩnh được ngay thị trường. Các doanh nghiệp Việt Nam cần xem xét kỹ các mặt hàng xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu của thị trường mới”.

Ngoài ra, ông Thái cũng cho rằng một trong những khó khăn mà các doanh nghiệp Việt phải ứng phó hiện nay là việc chuẩn bị, tìm hiểu đối tác của thị trường châu Âu chưa được đầy đủ. Khi bán hàng sang một thị trường mới, phải tìm hiểu những quy định của đất nước sở tại, như môi trường, con người, tập quán…

Theo các chuyên gia kinh tế, cái khó của doanh nghiệp Việt hiện nay là chưa có hệ thống kho hàng, bến bãi, vì vậy khi giao thương với khu vực này chi phí vận chuyển cao. Điều này sẽ khiến lợi ích của việc giảm thuế không còn trọn vẹn.

Theo thoibaokinhdoanh